Tác động của cổ phần hóa đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tin Sông Đà

Tác động của cổ phần hóa đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 Những tác động góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD

CPH huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào hoạt động SXKD

Nhờ đó doanh nghiệp có vốn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển kinh doanh theo chiều sâu. “Thực hiện CPH, doanh nghiệp đã thu hút được một lượng vốn lớn rất quan trọng từ cán bộ công nhân viên làm việc trong doanh nghiệp và trong dân cư để đầu tư phát triển”

Kinh tế nhà nước và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, PGS.TS. Ngô Quang Minh. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2001, trang 174.

Doanh nghiệp có thể vừa bán cổ phần cho lao động trong doanh nghiệp vừa bán cho tổ chức hay cá nhân ngoài doanh nghiệp thu hút lượng vốn đáng kể. Có như vậy thì các chỉ tiêu về SXKD mới đạt và vượt kế hoạch đề ra làm lợi cho doanh nghiệp. Từ trước đến nay lượng vốn nhàn rỗi trong dân bị lãng phí, tuy rằng những người có tiền họ vẫn có thể gửi tiết kiệm thu lãi suất hàng tháng. Nhưng lượng vốn đó nếu được các chủ thể tận dụng làm vốn kinh doanh phát triển sản xuất thì lợi nhuận sẽ lớn hơn rất nhiều. Vấn đề này được giải quyết khi tiến hành CPH DNNN nhất là những DNNN có xu hướng làm ăn có lãi sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều cá nhân và tổ chức trong xã hội tham gia đầu tư.

CPH tạo ra doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu

Chủ sở hữu trong CTCP bao gồm Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp. CTCP là tổ chức có tư cách pháp nhân và các cổ đông chỉ được hưởng phần lợi nhuận và chịu trách nhiệm tài chính phát sinh hoặc các rủi ro khác trong phạm vi phần vốn góp của mình. Tuỳ vào mức cổ phần của mình trong công ty, cổ đông được hưởng mức lợi nhuận hay trách nhiệm tài chính hoặc các khoản nợ khác nhau tạo ra một sự phân tán rủi ro.

Người đầu tư vốn cũng tự chủ trong việc chọn công ty mà mình đầu tư, thậm chí có thể đầu tư mua cổ phần và trở thành người chủ đồng sở hữu ở nhiều công ty trong cùng thời điểm vì vậy họ cảm thấy an tâm và hạn chế được độ rủi ro cho phần vốn của mình. CTCP tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau trong hoạt động chung của công ty nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng đối với từng cổ đông cả về trách nhiệm và quyền lợi theo mức vốn góp của mình. Mở rộng sự tham gia của các cổ đông thu hút được lượng vốn đầu tư cho hoạt động SXKD, phát triển công ty.

CTCP tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về CPH DNNN là tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp tham gia mua cổ phần và khẳng định quyền làm chủ của mình. Cổ đông trong doanh nghiệp từ chỗ làm chủ hình thức sang làm chủ thực sự sau khi doanh nghiệp CPH.

“Chỉ khi có vốn tham gia mua cổ phiếu, tham gia chọn các thành viên trong HĐQT (là cơ quan thay mặt mình để quản lý doanh nghiệp) thì lúc đó người lao động mới có quyền thực sự, không bị một sức o ép nào”

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, PGS.PTS. Hoàng Công Thi và PTS. Phùng Thị Đoan. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1992, trang 30.

Khi đã trở thành cổ đông, quyền lợi và trách nhiệm của người lao động gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nếu muốn, trở thành người chủ của doanh nghiệp thì người lao động sẽ có trách nhiệm với công ty hơn. Có như vậy thì kết quả SXKD của công ty mới thực sự có hiệu quả, họ mới được hưởng lợi nhuận cao xứng đáng với sức lao động mà mình bỏ ra.

CTCP tạo ra cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, linh hoạt

“CPH DNNN là chuyển doanh nghiệp từ chỗ chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước sang Nhà nước quản lý thông qua chính sách, pháp luật”

Kinh tế nhà nước và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, PGS.TS. Ngô Quang Minh. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2001, trang 176.

Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường. Điều này đã tạo cho doanh nghiệp sự thay đổi trong hoạt động quản trị từ tư tưởng dựa dẫm sang ý thức tự lực, dễ thích ứng với sự thay đổi của cơ chế thi trường, lời ăn, lỗ chịu.

Bộ máy quản lý của doanh nghiệp được bố trí tinh giản, gọn nhẹ thực sự là đại diện cho cổ đông. Mọi hoạt động của công ty được tiến hành theo điều lệ và quy định chặt chẽ của công ty. Nhiều CTCP đã rà soát lại và xây dựng mới quy chế tài chính, lao động, tuyển dụng; xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của ban lãnh đạo và cổ đông, tổ chức hợp lý các bộ phận kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh nghiệp như giải quyết vấn đề nhân sự, ra quyết định quản lý hay kinh doanh, xây dựng chiến lược đầu tư nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp được chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc thiết bị phù hợp với yêu cầu SXKD. Việc mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ được HĐQT bàn và quyết định trên cơ sở tính toán xem doanh nghiệp cần mua gì, đổi mới gì có phù hợp với điều kiện SXKD và tình hình tài chính của công ty không. Quá trình tính toán và quyết định diễn ra khẩn trương, dứt khoát đáp ứng yêu cầu về thời gian, tiến độ mà không cần phải trông chờ vào sự phê duyệt của bất cứ một ai . Đây là một thuận lợi rất cơ bản để tự chủ nắm bắt cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh không phải lệ thuộc chờ đợi tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và uy tín trên thị trường.

Những vấn đề còn vướng mắc phát sinh trong CTCP làm hạn chế việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa CTCP và Nhà nước

CPH từ chỗ chuyển doanh nghiệp từ chỗ chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước về mọi mặt sang hình thức quản lý gián tiếp bằng pháp luật và chính sách. Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh quá trình CPH các DNNN nhưng các cơ quan chủ quản trước đây đã ít hỗ trợ và buông lỏng quản lý đối với CTCP, vẫn chưa xác định rõ cơ quan nào là đầu mối để đứng ra chịu trách nhiệm tổng hợp, giải quyết những vấn đề vướng mắc cho doanh nghiệp, hay chuyên làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, phổ biến chính sách tuyên truyền các vấn đề liên quan đến CPH và hậu CPH để doanh nghiệp tổ chức hoạt động SXKD theo đúng pháp luật.

Bên cạnh đó doanh nghiệp lại chịu sự can thiệp quá sâu của Sở là chủ quản cũ. Cơ chế thủ tục hành chính rườm rà phức tạp, nhất là những rào cản hạn chế tính chủ động sáng tạo và các kế hoạch đầu tư mở rộng SXKD của doanh nghiệp.

Những kiểu quan hệ can thiệp quá sâu thường bắt nguồn từ mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty thành viên tiến hành CPH nhưng có cổ phần chi phối trong công ty mẹ hoặc giữa tổng công ty với với các CTCP nhưng vẫn chịu sự chi phối của Tổng công ty. Đây là thực trạng “bình mới rượu cũ”, không ít doanh nghiệp CPH vẫn vận dụng chính sách, cơ chế điều hành như ở DNNN, bộ máy không đổi mới.

Vấn đề khác là người đại diện của nhà nước trong CTCP, theo nghị định 73, người đại diện chỉ có thể tác động đến hoạt động của CTCP theo quy định của luật pháp và điều lệ công ty, tác động của họ nhiều hay ít, có tính chất quyết định hay không tuỳ thuộc vào số vốn của nhà nước đầu tư vào CTCP. Nhưng trong thực tế vẫn xảy ra tình trạng người đại diện có sự can thiệp quá sâu vào mọi hoạt động của công ty làm tính chủ động sáng tạo trong điều hành hoạt động kinh doanh của bộ máy quản lý bị hạn chế rất nhiều ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD.

Trong quá trình đa dạng hoá sở hữu, việc xử lý mối quan hệ mới phát sinh là điều không thể tránh khỏi, CPH làm không triệt để vẫn mang nặng tâm lý dựa vào nhà nước kìm hãm hoạt động của các mô hình mới, nới rộng quyền tự chủ của CTCP cũng là việc nên làm và làm dứt điểm để đấy mạnh quá trình CPH DNNN ở nước ta.

Những bất cập trong quản trị doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp, các hoạt động quản lý trong CTCP đều được thực hiện bởi đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và bộ máy điều hành. Họ đa số là những người làm công tác điều hành nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nhưng trong thực tế vấn đề xác định chủ sở hữu doanh nghiệp không đơn giản và không theo lý luận như trên.

Đa số cổ phần bán ra đều do người lao động trong công ty cũ mua lại. Trong nhiều trường hợp, người lao động không thấy được vai trò sở hữu thực sự của mình Do họ vẫn giữ thái độ e ngại đối với ban lãnh đạo; hoặc trong nhiều trường hợp cổ đông không được cung cấp đầy đủ thông tin nên cổ đông không nắm được các phương án kinh doanh, các quyết định chiến lược của công ty, họ thấy mình bị đứng ngoài cuộc hay các cổ đông không nắm được những quy định pháp lý về quyền hạn cổ đông của các cơ quan HĐQT, ban kiểm soát, hệ thống điều hành cũng như trình tự tổ chức đại hội cổ đông. Điều này có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân do thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong tay một số ít người có trách nhiệm.

Cán bộ quản lý ít thay đổi: Các doanh nghiệp sau CPH còn hiện tượng sử dụng hầu như toàn bộ hệ thống cán bộ quản lý thuộc bộ máy cũ, nguyên nhân do quá trình CPH chủ yếu thuộc về cán bộ công nhân viên nên thiếu những cổ đông bên ngoài doanh nghiệp có cổ phần lớn và có đầu óc kinh doanh chiến lược. Việc này làm giảm sức sáng tạo, tinh thần kinh doanh trong doanh nghiệp. Nói cách khác tư duy, trình độ quản lý ít thay đổi vẫn có sự chây ì, phụ thuộc làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động SXKD.

Về tổ chức bộ máy quản trị: Nhiều doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh lại không hoạt động theo điều lệ công ty, vẫn duy trì bộ máy quản trị như trước khi CPH, một số chỉ thay đổi chức danh, mà vẫn áp dụng những nguyên tắc và quy định của DNNN đã không còn phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp thời kỳ đổi mới.

Những vấn đề tồn đọng của quá trình CPH

Quá trình CPH diễn ra rất phức tạp và để lại không ít hậu quả không tốt đối với hoạt động của CTCP, nhất là tiến hành CPH trong giai đoạn đầu còn nhiều bất cập và chưa có kinh nghiệm.

Nhiều doanh nghiệp tiến hành CPH xong nhưng rất nhiều vấn đề doanh nghiệp cũ để lại cần giải quyết làm ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch SXKD như vấn đề thanh toán nợ của doanh nghiệp chưa xong và quy trình xử lý cũng rất phức tạp vì quyền hạn và trách nhiệm với khoản nợ ấy đã thay đổi so với trước, người đứng ra nhận trách nhiệm cũng không rõ ràng mà hay đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ phận với nhau (khó khăn trong vấn đề đòi nợ, trả lãi). Việc xử lý chỉ giới hạn ở các khoản nợ đã xác định là khó đòi, không có khả năng thu hồi (con nợ đã bị phá sản, giải thể, đang bỏ trốn hay đang thi hành án hoặc đã bị chết). Ngoài ra những khoản nợ của doanh nghiệp trong cơ chế cũ vẫn còn, doanh nghiệp sau khi chuyển đổi vẫn phải gánh chịu và không xử lý nổi.

Vấn đề xác định quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp sau CPH cũng gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp thuộc quyền tổng công ty. Các vấn đề nảy sinh về đất đai, nhà xưởng có liên quan trước khi CPH gây ra sự lúng túng cho doanh nghiệp trong việc bố trí kế hoạch SXKD. Tình trạng thực tế xảy ra là các thành viên thuộc Tổng công ty tiến hành CPH không có quyền sử dụng đất, không được đứng tên thuê giao đất phải nhờ Tổng công ty đứng ra để vay vốn cho; tương tự, trước đây khi vẫn còn là thành viên tổng công ty, các tài sản, dây chuyền sản xuất đều do tổng công ty đầu tư và đứng tên sở hữu, khi tiến hành CPH việc chuyển giao tiến hành chưa dứt điểm, gây ra tình trạng quyền sở hữu không rõ khiến các CTCP rất khó khăn trong việc triển khai kế hoạch mở rộng, liên doanh, hợp tác kinh doanh với các đối tác

Đoạn này được tóm tắt từ Tạp chí kinh tế và dự báo, số tháng 11/2005, trang 16

Những vấn đề về tài chính và lao động

Sau CPH doanh nghiệp cần rất nhiều vốn để tiến hành hoạt động SXKD, đầu tư mở rộng sản xuất dưới mô hình hoạt động mới, doanh nghiệp cần vốn phải trông chờ vào các nguồn tín dụng khác kể cả tín dụng phi chính thức tiềm ẩn rất nhiều yếu tố rủi ro, tín dụng người lao động hoặc gia đình, bạn bè. Chính sách của nhà nước mới chỉ là đưa ra những ưu đãi chứ chưa có những chế định cụ thể để đảm bảo cho doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi này, ngoài ra sự thiếu nhất quán trong thực hiện các chính sách của nhà nước.

Một vấn đề khác phát sinh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp sau CPH là bất cập trong chế độ hạch toán, kế toán của CTCP. Thực tế cho thấy, bên cạnh những mặt thuận lợi như khả năng huy động vốn, sự phân tán rủi ro, gắn bó quyền lợi và trách nhiệm về tài chính với phần vốn góp của cổ đông, quyền quản lý được phân cấp rõ ràng tuy nhiên do chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính nên công tác hạch toán ở CTCP vẫn gặp nhiều vướng mắc, vướng mắc trong việc hạch toán, quản lý phần vốn nhà nước cũng như phần vốn của các cổ đông như thế nào cho phù hợp, các khoản thuế được miễn giảm, hay phần lợi nhuận để lại để bổ sung vốn, điều chỉnh vốn điều lệ của doanh nghiệp như thế nào cho phù hợp với chiến lược kinh doanh của công ty, vấn đề trích lập các loại quỹ, phân phối lợi nhuận sao cho phù hợp.

Chính sách ưu đãi đối với người lao động trong doanh nghiệp CPH đã được ban hành nhưng lại tiến hành thay đổi thường xuyên nên khi khắc phục được mâu thuẫn này lại nảy sinh mâu thuẫn khác. Giai đoạn đầu người lao động mua một cổ phần trả bằng tiền thì được mua chịu một cổ phần vì vậy làm xuất hiện tình trạng người giàu được hưởng nhiều hơn người nghèo. Sau đó lại thay đổi lại là ưu đãi theo thâm niên và chất lượng công tác và được nhà nước bán chịu trong 5 năm với lãi suất ưu đãi làm nảy sinh vấn đề người mua cổ phần không có quyền sở hữu số cổ phần nhà nước cấp mà chỉ được hưởng lợi tức. Sang giai đoạn sau, người lao động cứ một năm làm việc cho nhà nước được mua 10 cổ phiếu giảm giá 30%, tổng giá trị cổ phiếu ưu đãi không vượt quá 20% giá trị vốn nhà nước có tại doanh nghiệp, số người làm việc tại các doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau nên được hưởng mức ưu đãi khác nhau. Những người lao động nghèo cũng chịu tình trạng không công bằng gây tình trạng tâm lý bất ổn cho người lao động. 

 

Nguồn: Tổng hợp từ internet

Tin mới hơn

Tin cũ hơn